Những phát triển kỹ thuật quân sự của hải quân TQ

 

KHÁT QUÁT VỀ NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) hiện có 77 tàu chiến, 56 tàu ngầm hạt nhân và đi-ê-zen, hơn 50 tàu đổ bộ lớn, hơn 50 tàu tuần tiễu trang bị tên lửa, và một lực lượng yểm trợ vùng nước sâu đang được phát triển. Lực lượng này bao gồm 11 tàu khu trục tên lửa hiện đại và 16 tàu frigat tên lửa hiện đại. Từ cuối năm 2006 đến giữa năm 2007, 2 tàu khu trục mới Type 051C (Luyang II) và 2 tàu frigat Type 054A (Jiangkai-II) sẽ được đưa vào sử dụng, cùng với đốc đổ bộ đầu tiên do Trung Quốc chế tạo (Type 071 LPD). Tàu sân bay Varyag trước đây tiếp tục được sửa chữa, và có thể được sử dụng vào cuối năm 2008. 18 tàu khu trục loạt Type 051 và hơn 30 tàu frigat loạt Jianghu vẫn đang được sử dụng. Ngoài ra, Lực lượng hải quân đánh bộ Trung Quốc bao gồm Lữ đoàn hải quân đánh bộ số 1 và 164 thuộc Hạm đội Nam Hải và Đông Hải. Cùng với việc tiếp tục hiện đại hóa binh chủng không quân hải quân – bao gồm 8 sư đoàn không quân hải quân và 2 trung đoàn trực thăng trang bị cho tàu – là việc sẵn sàng yểm trợ để thực hiện cả những nhiệm vụ ở bờ biển và những nhiệm vụ ở vùng nước sâu. Hải quân Trung Quốc khá lớn nhưng không hiện đại so với hải quân các nước Tây Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc.

“Các nhà quan sát tin rằng, trước mắt trọng tâm hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc là triển khai một lực lượng có thể giành thắng lợi trong một cuộc xung đột không kéo dài với Đài Loan và hoạt động như một lực lượng chống thâm nhập nhằm răn đe sự can thiệp của Mĩ hoặc trì hoãn được sự tham chiến của các lực lượng Mĩ, đặc biệt là lực lượng không quân và hải quân, vào một cuộc xung đột như thế. Một số nhà phân tích dự đoán rằng khoảng năm 2010 Trung Quốc có thể có được một lực lượng chống thâm nhập đường biển. Các nhà quan sát khác tin rằng Trung Quốc sẽ có lực lượng này muộn hơn.Những mục tiêu có tiềm năng lớn hơn hoặc lâu dài hơn của việc hiện đại hóa hải quân Trung Quốc bao gồm củng cố giới lãnh đạo quân sự cấp quân khu của Trung Quốc và bảo vệ những lợi ích về lãnh hải, kinh tế và năng lượng của Trung Quốc”.

NHỮNG ĐỘNG CƠ HIỆN ĐẠI HÓA

Trung Quốc có nhiều động cơ để tăng cường và hiện đại hóa các lực lượng hải quân của họ. Trong đó có nhiều động cơ nhằm đạt được những mục tiêu an ninh quốc gia lớn hơn; động cơ tiên quyết là đảm bảo sự tồn tại của chế độ Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP). Tất cả những mục tiêu khác nhằm duy trì sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh trong nước của Trung Quốc. Bao gồm:

+ Duy trì nhịp độ phát triển kinh tế cao: Đối với giới lãnh đạo Trung Quốc, đây là công cụ để đạt được tất cả những mục tiêu khác, kể cả có được những lực lượng quân sự thỏa đáng để duy trì an ninh quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ như Sách Trắng 2006 của Trung Quốc đã tuyên bố: “Hiện đại hóa quốc phòng và quân đội, được tiến hành dựa trên nền tảng phát triển kinh tế vững chắc, là yêu cầu để theo kịp những xu hướng mới trong cuộc cách mạng và phát triển toàn cầu trong lĩnh vực quân sự….”.

+ Ngăn chặn sự li khai hợp pháp của bất kì tỉnh nào, kể cả Đài Loan, đồng thời duy trì vai trò sống còn và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

+ Nâng cao toàn diện sức mạnh quốc gia. Ở đây bao gồm sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, chính trị và ngoại giao được tăng cường kết hợp với những thành phần “sức mạnh mềm” (sức mạnh phi đối xứng). Cuối cùng là phát triển Trung Quốc như một cường quốc thế giới, có sức mạnh toàn diện nhất.

Sách Trắng gần đây nhất của Lầu Năm Góc đệ trình lên Quốc hội Mỹ (2006), đã có một số thay đổi trong đánh giá bao gồm :

- Trái với một phân tích của năm 2002 cho rằng Trung Quốc không chế tạo tàu sân bay, thì nay một vài nhà phân tích dự đoán rằng tàu sân bay dùng cho máy bay cất hạ cánh thông thường (CTOL) đầu tiên sẽ hoạt động vào năm 2015 (không ám chỉ tàu Varyag);

- Thông tin cập nhật về tên lửa đường đạn xuyên lục địa (ICBM) Đông phong 31 (DF-31) và DF-31A mới;

- Triển khai lực lượng tăng cường đối phó với Đài Loan (ở Nam Kinh, Tế Nam, Quảng Châu), bao gồm 300 xe tăng và tăng thêm 25.000 quân (tổng số lên đến 400.000), với 11 cuộc tập trận đổ bộ được tiến hành trong 6 năm qua.

Dưới đây là tóm tắt về các chương trình tàu, tên lửa, máy bay và các chương trình khác.

HIỆN ĐẠI HÓA TÀU NGẦM

Người ta tin rằng chiếc tàu Type 039G (lớp Tống II) đã được đưa vào sử dụng trong năm 2006, có 3 tàu đang được chế tạo là: tàu Type 094 (Jin) SSBN; Type 093 (Shang) SSN và Type 041 (lớp Viên), vùng với việc đặt mua tàu Type 636 (lớp Kilo) SSK. Tàu Type 091/09 (lớp Hán) N0403 đã được hiện đại hóa và đại tu trong khoảng thời gian từ 2003-04, bao gồm mở rộng thân tàu 8m để có thể lắp đặt thêm sonar mạng kéo thụ động mới cùng với khả năng phóng ngư lôi  chống ngầm Ying-ji-82. Những tàu khác có thể cũng sẽ được hiện đại hóa tương tự. Tàu N0401 hiện không hoạt động, nhưng có lẽ kế hoạch chế tạo lại và hiện đại hóa sẽ được bắt đầu trong năm 2007.

- Tàu SSBN lớp “Jin”: tàu đầu tiên thuộc lớp tàu này đã được hạ thuỷ năm 1999 tại xưởng đóng tàu Huludao và bắt đầu thử nghiệm trên biển năm ngoái. Một bức ảnh chụp tại xưởng Huludao cho thấy tàu ngầm này rất giống với tàu ngầm Delfin (Project 677BDR, Delta III) của Nga nhưng thiếu thiết bị tung sonar mạng kéo ở phía trên cánh thẳng đứng. Tàu mang 12 tên lửa đường đạn phóng từ tàu ngầm (SLBM) JL-2 (CSS-NX-4), có 3 hoặc 4 khoang trở về khí quyển mang nhiều đầu đạn (hạt nhân) tiến công các mục tiêu độc lập (MIRV) 90-kT hoặc đầu đạn đơn lớn hơn  tầm 8.000km. Người ta tin rằng chiếc thứ 2 đã được hạ thủy khoảng tháng 9/2004 và ít nhất có 4 chiếc sẽ được chế tạo.

- Tàu ngầm tiến công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN) lớp “Shang”: tàu SSN thế hệ thứ hai, về độ ồn tàu này có thể so sánh với tàu ngầm Project 671RTMK (Victor III) của Nga, cũng có thiết kế thân tàu kép và những tính năng khác, đó là kết quả của sự giúp đỡ của Văn phòng thiết kế trung ương RUBIN, theo một hợp đồng với Trung Quốc. Tàu được trang bị một sonar H/SQG-207 mạng kéo mới được lắp đặt ở thân tàu. Tàu được lắp một thiết bị đẩy 7 cánh quạt, với tốc độ dưới nước có thể đạt 30-32 hải lí/giờ. Rõ ràng có lớp vật liệu giảm tiếng động ngoài thân tàu, cũng như các hệ thống sonar thụ động lắp đặt hai bên mạn tàu. Tàu được trang bị 2 hoặc 4 ống phóng ngư lôi 650mm, cùng với 4 ống phóng ngư lôi 533mm và ngư lôi Yu-6 hoặc Yu-8/TEST-71MKE. Hai tàu này đã hoàn tất giai đoạn thử nghiệm của nhà chế tạo, chiếc đầu tiên có thể được đưa vào sử dụng cuối năm nay, chiếc thứ hai vào khoảng giữa năm 2008. Chiếc tàu thứ 3 đang được chế tạo. Lầu Năm Góc dự tính đến năm 2010 sẽ có 3-4 tàu được đưa vào sử dụng, và nhu cầu có thể lên 8 đến 10 tàu.

- Tàu SSK lớp “Viên”: dựa vào tàu Project 636 đã được nâng cấp và kết hợp một vài chi tiết thiết kế của tàu Type 039G, chiếc tàu đầu tiên (N0330) đã được hạ thủy tháng 5/2004 và qua thử nghiệm năm 2005; Thân tàu N02 được hoàn thành tháng 12/2004. Thân tàu N01 được chế tạo tại Công ty công nghiệp đóng tàu Vũ Hán; và hiện Xưởng đóng tàu Giang Nam đã thay thế việc chế tạo tàu Type 039G1 bằng một thân tàu lớp “Viên” mới. Thêm 2 tàu nữa hiện đang được chế tạo tại Vũ Hán. Đến năm 2010, tàu số 9 và 10 có thể được đưa vào sử dụng. 20 tàu lớp này có thể sẽ được chế tạo và Xưởng đóng tàu Giang Nam có thể sẽ được đưa vào chương trình này trong năm 2006 với việc hoàn thành tàu lớp “Tống-II”. Người ta cho rằng động cơ đẩy là một động cơ đi-ê-zen MTU-16V được chế tạo theo giấy phép tại Công ti Shaanxi Diesel Mfg. Có tất cả tính năng của tàu Project 636, tàu lớp này còn mang tên lửa chống tàu YINGJI-82 (YJ-82) và một tổ hợp ngư lôi chống tàu và tác chiến chống ngầm.

- Tàu SSK lớp “Tống-II”: Tàu lớp Tống-II cải tiến (Type 039G) cuối cùng đã được hoàn thành năm ngoái, sau 12 tàu đang hoạt động. Được lắp động cơ đi-ê-zen MTU 12V 493 chế tạo theo giấy phép, tàu lớp này mang thiết bị đẩy 7 cánh quạt đầu tiên trong các lớp tàu của Trung Quốc. Tốc độ đi ngầm được đặt ra là 22 hải lí/giờ, để lặn sâu 300m. Chiếc tàu lớp Tống-I đầu tiên được hạ thủy vào tháng 5/1994 nhưng có những nhược điểm trong thiết kế và không được sử dụng cho đến năm 1999. Đã có những thay đổi ở tàu lớp Tống-II (số 32) và tàu này được đưa vào sử dụng tháng 4/2001. Xê-ri tàu Type 039G1 bắt đầu với thứ tự tàu số 7, hạ thuỷ năm 2003. Tàu mang 6 ngư lôi 533mm, các ngư lôi tác chiến chống ngầm điều khiển bằng dây, và ngư lôi chống tàu tiêu chuẩn Yu-4G (SAET-60), Yu-7 (Mk.46 Mod.2), với tàu Type 039G1 cải tiến, trong lựa chọn vũ khí,  có thể được trang bị thêm 4 tên lửa chống tàu YINGJI-62 (YJ-62).

- Tàu SSK lớp Project 636M: Năm 2002, Trung Quốc đặt mua 8 tàu Kilo cải tiến với một hợp đồng trị giá 2 tỉ USD; chiếc đầu tiên đã cập bến Thượng Hải tháng 2/2005 và chiếc thứ 2 đã được hạ thủy tháng 7/2005. Năm tàu đã được chuyển giao vào tháng 1/2006; chiếc thứ 6 và 7 đã được chuyển giao tháng 6/2006; theo dự định chiếc cuối cùng sẽ được chuyển giao vào giữa năm nay. Hải quân Trung Quốc có 2 tàu ngầm Project 877EKM (số hiệu 354, 365) và 2 tàu ngầm Type 636 (số hiệu 366, 367), tất cả những tàu này được biên chế trong Hạm đội  Đông Hải tại Xiangshan. Loại tàu này có thể lặn sâu hơn 225m, thực hiện hành trình trên biển 45 ngày. Được trang bị 6 ống phóng ngư lôi và thông thường mang 18 ngư lôi. Tàu được thiết kế để có thể mang bất kì hệ thống nào trong 3 hệ thống vũ khí kết hợp với tên lửa CLUB-S/3M54 SLCM (Mach 0,8, tầm 300km đối với kiểu ngư lôi chống ngầm). Một ống phóng tên lửa phòng không với 8 tên lửa phòng không STRELA-3/SA-N-8 GREMLIN tầm gần được trang bị cho các tàu loại này của Nga, nhưng không chắc chắn liệu có được trang bị cho các tàu của Hải quân Trung Quốc không. Loạt tàu mới sẽ được trang bị tên lửa CLUB-S (Novator 3M54E; SS-N-27; tầm:300km, Mach 0,8), theo một hợp đồng được kí tháng 5/2002. Cuối năm 2005, Trung Quốc cũng đã xác nhận về những hợp đồng mua hệ thống tên lửa chống tàu VA-111E SHKAVAL do Nga chế tạo, loại tên lửa có tầm 8km ở tốc độ 200 hải lí/giờ và được phóng từ những ống phóng ngư  lôi 533mm tiêu chuẩn. Nga coi tên lửa này như một vũ khí “cuối cùng” dùng để đối phó với tàu hoặc tàu ngầm.


Hải quân TQ trong tàu ngầm lớp Kilo

 

TÀU SÂN BAY VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH MÁY BAY TIÊM KÍCH PHỐI HỢP

Công việc liên quan đến tàu sân bay Varyag vẫn tiếp tục và một công ty thiết kế tàu biển ở Vũ Hán đã có 3 mẫu thiết kế tàu sân bay để trưng bày. Ngoài ra, một động cơ đẩy lớn đang được chế tạo tại Thượng Hải (Varyag được chuyển giao mà không có động cơ đẩy). Trong 2 năm, từ năm 2002, công việc này đã được tiến hành tại Xưởng đóng tàu Đại Liên. Trung Quốc đã mua của U-crai-na một mẫu máy bay T-10K FLANKER dành cho hải quân. Chỉ ngay sau triển lãm EURONAVAL 2006, Nga khẳng định Trung Quốc đã đặt mua 2 máy bay Sukhoi Su-33 FLANKER. Mat xcơ va dự tính đơn đặt hàng có thể lên tới 48-50 chiếc sau những đợt chuyển giao trong 5 năm tới, mỗi đợt từ 12 đến 18 máy bay, với tổng trị giá hợp đồng khoảng 2,5 tỉ USD. Những máy bay này có thể trang bị cho 3 trung đội không quân của Hải quân Trung Quốc, cùng với một phi đội huấn luyện nhỏ hơn.

Công ti KnAAPO của Nga chế tạo tất cả các máy bay FLANKER dùng cho hải quân và có thể chia sẻ với Sukhoi bất kì một hợp đồng nào như thế. Máy bay Su-33, có tốc độ Mach 2+, tầm 3.000km và có rất nhiều giải pháp lựa chọn trang bị vũ khí, sẽ tăng cường được khả năng tác chiến ngoài khơi hiện nay của Hải quân Trung Quốc. Máy bay này sẽ được trang bị cho tàu sân bay Varyag trong vài năm tới. Những vũ khí Trung Quốc có thể đặt mua bao gồm tên lửa chống tàu (ASM) Novator KS-172 tầm 300km, tên lửa chống bức xạ (ARM) Kh-59MK và Kh-31, tên lửa không đối không (AAM) Vympel R-77, cùng với tên lửa Navator phóng từ tàu ngầm mà Hải quân Trung Quốc đã mua, tên lửa hành trình phóng từ trên không (ALCM) 3M-54E rất có thể cũng được chọn để trang bị cho máy bay Su-33.

Các nhà phân tích Trung Quốc cho rằng khi tàu sân bay Varyag được triển khai thì cũng không thể thiếu vai trò của trực thăng. Trực thăng sẽ bao gồm trực thăng tác chiến chống ngầm Ka-28 HELIX và trực thăng kiểm soát và báo động sớm đường không Ka-31 (Ka-252 RLD). Trung Quốc đang tìm hiểu về kiểu trực thăng tiến công và yểm trợ hoả lực Ka-252TB (Ka-29), nhưng loại này có lẽ để dùng cho lực lượng tàu đốc đổ bộ có sàn đỗ máy bay  (LPD) Type 071 và tàu đổ bộ xe tăng (LST) mới.


Varyag tại cảng Đại Liên

 

 

Ngày 26/11 năm ngoái có một sự kiện đáng lưu ý: một quan chức của Bộ Quốc phòng Đài Loan báo động rằng Đài Loan rất cần tàu ngầm để tự vệ đối phó với sự phát triển nhanh chóng của Hải quân Trung Quốc, kể cả kế hoạch trang bị 2 tàu sân bay vào năm 2020. Các nhà phân tích lo ngại sự mở rộng của Hải quân Trung Quốc cuối cùng có thể sẽ vô hiệu hóa sự hiện diện của Hải quân Mĩ trong khu vực này.
Theo nguồn tin của báo United Daily News và Apple Daily, Chen Yung-kang, một quan chức của Bộ Quốc phòng Đài Loan, cho biết tàu sân bay Varyag mà Nga đã hoàn tất một nửa hiện đang được sửa chữa ở Đại Liên và sẽ sẵn sàng dùng cho mục đích huấn luyện của Hải quân Trung Quốc trong 6 năm nữa. Ngoài ra, ông Chen còn cho biết “ Hải quân Trung Quốc đang có kế hoạch chế tạo tàu sân bay của riêng họ, mà theo dự định sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2020”.

Tuy nhiên, những tuyên bố của Bắc Kinh ám chỉ nhiều hơn tới nhu cầu về một lực lượng gồm 3 tàu sân bay, có thể có hoặc không có tàu sân bay Varyag. Những cơ quan đóng vai trò then chốt trong những nỗ lực của Trung Quốc bao gồm Viện nghiên cứu thiết kế 702 và Trung tâm nghiên cứu về tàu Wuxi. Nếu như một hợp đồng về tàu sân bay của Trung Quốc được thực hiện trong năm 2006, nó sẽ được hạ thủy trước năm 2011 và được đưa vào sử dụng trước năm 2014; và tiếp theo đến năm 2016 chiếc thứ hai có thể được đưa vào sử dụng.

GIẢM CHẾ TẠO MỚI TÀU KHU TRỤC

Gần đây, việc giảm chế tạo tàu khu trục được coi là không đáng kể. Điều này có thể liên quan đến tài chính, hoặc có thể liên quan đến việc thảo luận về loại tàu nào tiếp theo sau khi tàu phòng không Type 051C và tàu đa năng lớp 052C, hoặc tàu Type 054A được chấp thuận là thiết kế tàu frigat tên lửa tương lai, 3 hoặc 4 xưởng đóng tàu chiến chính sẽ được chỉ định để chế tạo thiết kế này.

Tàu khu trục phòng không Type 051C (lớp “Lư Châu”) (“Thẩm Dương” DDG-115) và “Shijiazhuang” (DDG-116) đang trong giai đoạn lắp đặt cuối cùng và sẽ được đưa vào sử dụng trong năm 2008. Cả hai tàu này sẽ được biên chế cho Hạm đội Bắc Hải khi đưa vào sử dụng. Tàu được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không Altair S-300F/RIF-M (SA-N-6/GRUMBLE), với tên lửa 5V55RM trong 6 hệ thống phóng thẳng đứng kiểu ổ quay, có tầm 75km. Các nguồn tin của Nga cho biết tên lửa phòng không RIF-M đã xuống cấp và không thể thực hiện được nhiệm vụ chống tên lửa đường đạn chiến thuật. Một hệ thống pháo chủ lực Type 210 100mm được bố trí ở phía trước tàu, phát triển từ hệ thống pháo tự động Creusot-Loire T100C được bán cho Trung Quốc từ giữa thập kỉ 80. Nó trở thành hệ thống pháo chủ lực tiêu chuẩn trang bị cho tất cả các lớp tàu mới, ngoại trừ tàu DDG Type 956 do Nga chế tạo. Tám tên lửa chống tàu YINGJI-83 được trang bị cho tàu, có tầm tiến công 120km với khả năng tiến công lướt trên biển 5m ở 0,9 Mach.

Hiện có 3 tàu khu trục đa năng Type 956/956EM (lớp Sovremenny) ở Trung Quốc và chiếc thứ tư (DDG-139) vẫn đang ở Nga, nhưng có thể sẽ được chuyển cho Trung Quốc trong năm nay. Những tàu khu trục đang hoạt động là: tàu “Hàng Châu” (DDG-136), “Phúc Châu” (DDG-137) và “Taizhou” (DDG-138) – tất cả 3 tàu này hiện được biên chế trong Hạm đội Đông Hải. Điều làm cho lớp tàu này trở nên nổi trội là do tàu được trang bị 8 tên lửa chống tàu MOSKIT 3M-80MBE (SS-N-22 SUNBURN), có tầm 200km và tốc độ 2,5 Mach. Đầu đạn được chọn có thể bao gồm một đầu đạn hạt nhân thông thường (20kT) 300kg. Một thiết bị sục sạo trên không 3 chiều TOP PLADE (230km) và 6 hệ thống điều khiển hoả lực tên lửa cho tên lửa hạm đối không SA-N-7, cùng với hệ thống  vũ khí đánh gần (CIWS) KITE SCREECH (AK-130) và  BASS TILT (AK-630).

Tất cả loạt tàu này đều mang hệ thống tên lửa hạm đối không (48 tên lửa) dẫn đường bằng radar SHTIL 9M38 (SA-N-7 GRIZZLY), tầm xa 25km. Pháo chủ lực là một hệ thống pháo kép 130mm rất mạnh AK-130 (MR-184), có khả năng bắn 35 đến 50 viên đạn/phút. Tàu Type 956 có thể mang 4 hệ thống vũ khí đánh gần 6 nòng AK-650. Tất cả các tàu đều được trang bị trực thăng tác chiến chống ngầm PLA-N Ka-28 HELIX hoặc Z-9C (2 trực thăng). Chiếc thứ hai đã có sự thay đổi trong hệ thống vũ khí đánh gần. Hiện hệ thống vũ khí đánh gần KASHTAN được lắp đặt ở giữa tàu, bao gồm 2 hệ thống pháo 30mm GSh-6-30L Gatling/2 hệ thống SAM KORTIK (SA-N-11/GRISON) tầm gần.

Trong khi các tàu đều mới, thì đa số sensor và vũ khí đều từ giữa thập kỉ 80 và tương tự như của phương Tây và Lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản. Vai trò của những tàu này của Nga là đa năng, tác chiến chống ngầm (AsuW) và vai trò này không thay đổi trong Hải quân Trung Quốc, điều này trở thành thách thức đối với Hải quân Mĩ khi phải bám theo những tàu này trong bất kì cuộc xung đột nào ở Đài Loan. Các nguồn tin của Trung Quốc cho biết họ đã mua thêm 2 tàu nữa trong năm 2002.

Tàu Type 052C (lớp “Luyang-II”): 2 tàu này hiện đang hoạt động và được biên chế trong Hạm đội Nam Hải. Là tàu DDG đa năng 6.500 tấn, được chế tạo tại Xưởng đóng tàu Giang Nam (Thượng Hải), nhưng hiện vẫn chưa có thêm tàu lớp này. Đây là một lí do để Trung Quốc trang bị thêm tàu DDG trong thời gian tới. Vũ khí, sonar điện tử và hệ thống SAM HHQ-9 của tàu tạo ra khả năng phòng không mới cho các Lực lượng đặc nhiệm của Hải quân Trung Quốc trong vùng biển dễ xảy ra xung đột ở Biển Đông.


Type 052C Haikou trên vùng Biển Đông

 

Những tàu này là tàu duy nhất được trang bị 2 hệ thống radar mạng pha đặt trên đài chỉ huy nối với hệ thống SAM HHQ-9. 48 tên lửa được mang trong 8 ống phóng. 6 ống phóng được đặt ở phía trước của đài chỉ huy phía dưới hệ thống vũ khí đánh gần Type 730. Hệ thống SAM HHQ-9 là một tên lửa có thiết bị dẫn đường đầu cuối và tương tự như kiểu SAM của PLA. Hai tàu – “Lan Châu” (DDG-170) và “Haikou” (DDG-171) – được trang bị 8 tên lửa chống tàu YINGJI-62 (YJ-62) với tầm 280km, với một đoạn dẫn đường đầu cuối (40km) lướt trên biển ở độ cao 7- 10m. Dẫn đường ban đầu của tên lửa là một radar BAND STAND đặt trên đài chỉ huy. Các sensor khác bao gồm thiết bị sục sạo trên không 2 chiều tầm xa KNIFE REST (Type 517H-1) và thiết bị điều khiển hỏa lực RICE LAMP (Type 327G/EFR-1) dùng cho hệ thống vũ khí đánh gần.

Có một hệ thống pháo chủ lực duy nhất Type 210 100mm (nhịp độ bắn là 90 viên đạn/phút) đặt ở phía trước, cùng với hệ thống vũ khí đánh gần Type 730. Những tàu mới còn được lắp đặt 4 ống phóng nhiễu 16 nòng, thay thế những ống phóng nhiễu thế hệ trước được trang bị cho các tàu khu trục và frigat trước đây. Tác chiến chống ngầm của Trung Quốc chủ yếu phụ thuộc vào các hoạt động từ xa của trực thăng Ka-28 HELIX và Z-9C trang bị cho mỗi tàu chiến. Trong một số hoạt động của tên lửa chống tàu, Ka-28 được kết hợp với radar BAND STAND. Cũng như với các tàu khu trục và tàu frigat khác của Trung Quốc, những tàu này được lắp ống phóng ngư lôi tác chiến chống ngầm 324mm (Mk.46 Mod.2) dùng cho ngư lôi Yu-7.

Tàu sử dụng cùng loại thân tàu như tàu Type 052B (lớp “Quảng Châu”), động cơ đẩy bao gồm động cơ DA80/DN80 do U-crai-na chế tạo và 2 động cơ điêzen Shaanxi (MTU 20V956TB92).

KẾ HOẠCH TRANG BỊ TÀU FRIGAT VỚI SỐ LƯỢNG LỚN

Người ta cho rằng Trung Quốc đã có kế hoạch chế tạo một thế hệ mới tàu frigat thông thường (Type 054A JIANGKAI-II), khoảng 28 tàu, chủ yếu để thay thế các lớp tàu “Giang Hồ” và “Giang Vệ” của thập kỉ 60. Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ có 2 tàu mới được xác định. Hai tàu Type 054A đầu tiên đã được chế tạo tại Hudong Zhonghua (Thượng Hải) và xưởng đóng tàu Huangpu (Quảng Châu), nhưng chưa thấy có thêm tàu tại xưởng đóng tàu Huangpu kể từ khi tàu trên được hạ thuỷ năm 2003.

Tàu Type 054A được cải tiến rất nhiều về khả năng phòng không so với thiết kế tàu Type 0 (lớp “Jiangkai”) trước đây. Công ti thiết kế Severn của Nga đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thiết kế tàu Type 054A, chủ yếu các hệ thống của Nga được lắp đặt cho tàu. Sử dụng tên lửa tầm trung lớp mới STHIL 9M317 (SA-N-12 GADFLY) – tên lửa 9M38M1 (SA-N-7) đã được cải tiến–cho SAM Type 054 HHQ-7 tầm gần (CROTALE NAVAL) trước đây. 9M317 là một cải tiến từ đầu thập kỉ 90 dựa trên 9M-38M  và 16 hộp chứa SAM được mang ở phía trước và 8 hộp ở phía sau. Tên lửa do Trung Quốc chế tạo được xác nhận là tên lửa HHQ-6. HHQ-6 có tầm 38km để đối phó với máy bay và 20km để đối phó với tên lửa hành trình bay thấp. Một pháo tự động Type 210 100mm được đặt ở phía trước, và 2 hệ thống vũ khí tác chiến gần Type 730 được đặt ở giữa tàu. Các thiết bị điện tử bao gồm một tổ hợp các hệ thống radar có nguồn gốc của Nga, hệ thống điều khiển hỏa lực (FCS) và phương tiện đối kháng điện tử(ECM)/phương tiện hỗ trợ điện tử (ESM) hiện đã được chế tạo tại Trung Quốc. Ở đây còn bao gồm hệ thống Type 363S, do Trung Quốc phát triển từ hệ thống radar sục sạo không/biển DRBV-15 SEA TIGER và  MR-36A dải I của hãng Thomson-CSF. Tác chiến chống ngầm bao gồm sonar tần số trung bình, 2 ống phóng ngư lôi 324mm cho ngư lôi tác chiến chống ngầm Yu-7, cùng với 2 trực thăng Z-9C hoặc Ka-28 HELIX.

Tàu Type 054 sử dụng động cơ đẩy CODAL thế hệ mới, kết hợp động cơ đi-ê-zen SEMT Pielstick (21.000 sức ngựa) với 2 động cơ đi-ê-zen Shaanxi MTU 20V 956TB92 (8,840 sức ngựa). Tàu Type 054A sử dụng động cơ đi-ê-zen do U-crai-na chế tạo và động cơ đi-ê-zen Shaanxi MTU.

Những phát triển khác của tàu frigat, tàu “Huainan” (FF-540) bắt đầu được chuyển đổi như là tàu thử nghiệm sử dụng hệ thống phóng thẳng đứng dùng cho SAM LN-60. LIEYING-60 là một phiên bản của tên lửa PL-11 AAM dùng cho hải quân, được phát triển từ SAM ASPIDE của Italia, mua từ thập kỉ 80. Những phát triển ban đầu để dùng cho hải quân bao gồm lắp đặt 2 ống phóng có 6 hộp chứa tên lửa trên một tàu frigat “Giang Vệ-I” (Type 053H2G). Hệ thống sử dụng một thiết bị dẫn đường radar bán chủ động, có tầm từ 1-18km ở tốc độ 4,0 Mach.


Type 053H2G

 

Hai thay đổi khác đáng lưu ý là về tàu lớp “Giang Hồ” cũ hơn. Tàu “Zhaotung” (FF-555) (Giang Hồ-I) được chuyển đổi thử nghiệm sử dụng hệ thống pháo/tên lửa phòng không bao gồm Type 76 37mm và 2 giá treo SAM PL-9, được biết đến là hệ thống Type 715-II. Hệ thống kiểm soát hỏa lực ZTJ-1 mới hơn được tăng cường và tiến hành cải tiến những tàu khác.

Tàu “Jiujiang” (FFS-516) được chuyển đổi thành tàu yểm trợ hoả lực ngoài khơi (FFS hoặc FSV), với hệ thống pháo chủ lực 100mm mới, lắp đặt 5 hệ thống rốc két phóng loạt 122mm, và trang bị hệ thống kiểm soát hoả lực Type 603 Optronic mới. Hiện có 3 tàu hoạt động với tính năng này: tàu “Nantong” (FFS-511), “Jiujiang” và “Shantou” (FFS-561). Tàu “Kaifeng” (FF-520) theo kế hoạch cũng được chuyển đổi nhưng chưa đủ điều kiện vật chất để tiến hành.

TÀU TIẾN CÔNG NHANH

Hải quân Trung Quốc hiện đang chế tạo duy nhất một tàu đổ bộ lớp Quixn (FAC-2208), và có một hợp đống với công ti đóng tàu Vympel Joint Stock của Nga để chế tạo tàu tiến công nhanh có trang bị tên lửa Project 12421 (lớp “Molniya”). Tàu lớp “Molniya” là một phiên bản nâng cấp của loạt tàu tiến công nhanh TARANTUL, tàu có thể được trang bị tên lửa chống tàu 3M80E (P-270 MOSKIT; SS-N-22/SUNBUR). Theo các nguồn tin của Nga, hợp đồng này được kí năm 2005. 4 tàu đầu tiên có thể được chuyển giao vào cuối năm 2007 đầu năm 2008. Được biết Hải quân Trung Quốc đang có nhu cầu 24-30 tàu “Molniya”. Tàu có trọng tải đầy đủ là 550 tấn, sẽ mang 4 tên lửa SSM SS-N-22, một pháo chủ lực AK-176M, 2 hệ thống vũ khí đánh gần AK-630, và 2 hoặc 4 tên lửa FASTA-M (S-N-8 hoặc loại sao chép lại của Trung Quốc). Có tầm hoạt động khoảng 2.400nm ở tốc độ hành trình 14 hải lí/giờ, có tốc độ tối đa là 38 hải lí/giờ. Ban đầu, 12 tàu được chuyển giao, với nhịp độ 2 tàu một năm. Giá có thể là 75 triệu USD một tàu.

Tàu tiến công nhanh lớp “Qiuxin” (FACM-2208) là tàu đầu tiên được hạ thuỷ tháng 4/2004, tàu đầu tiên của loạt tàu được chế tạo tại xưởng đóng tàu Qiuxin (Thượng Hải). Cho tới nay, đã có 9 chiếc tàu này (7 chiếc đang hoạt động) . Người ta cho rằng tàu type 2 đã được chế tạo tại xưởng đóng tàu Quảng Châu-mặc dù những bức ảnh về tàu này cho thấy tàu chưa mang số hiệu.


Tàu tấn công tốc độ cao mang tên lửa type 2208

 

Tàu có thiết kế 700 tấn, sử dụng thân tàu ghép, có lẽ dựa trên một kiểu tàu dân sự nhập từ công ti INCAT (Ôxtrâylia) có tên “Feihong”, được mở rộng và thiết kế lại thành một mẫu tàu có trang bị tên lửa rất ấn tượng. Trang bị loại tên lửa hạm đối hạm nào cho tàu còn đang thảo luận nhưng các nguồn tin đáng tin cậy của Trung Quốc cho biết đó là tên lửa YINGJI -83 (YJ-83) – 4 tên lửa được mang trên những ống phóng. Một hệ thống vũ khí đánh gần AK-630 được đặt ở phía trước, cùng với một hệ thống rađa/kiểm soát hỏa lực tên lửa Type 362A và thiết bị định hướng điện quang Type 603. Theo đơn đặt tầm có lẽ khoảng 1.800-2.000 hải lí. Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục chế tạo tàu này trong thập kỉ tới, họ đang có nhu cầu khoảng 20 đến 24 tàu để trang bị cho cả ba hạm đội.

Việc chế tạo những tàu khác, lớp cũ hơn của Trung Quốc đang giảm. Năm 2002, tàu “Houxin” (Type 037/1G) đã hoàn thành được 13 tàu. Trong năm 2002 hoặc 2003, đã có 8 tàu “Houjian” (Type 037/2) lớn hơn được hoàn thành, mỗi tàu được trang bị 6 tên lửa YINGJI-2 (C.801/CSS-N-4 SARDINE SSM). Việc chế tạo tàu tuần tiễu “Haizhiu” (Type 062/1) đã được hoàn thành năm 2002 với 29 tàu. Năm 2003 việc chế tạo tàu “Haiqing” (Type 037/1) đã được kết thúc với 32-36 tàu để thay thế những lớp tàu “Thượng Hải” và “Hải Nam” đã quá lỗi thời; Nhà sản xuất chính là Công ti đóng tàu Qiuxin” (Thượng Hải), công ti này hiện đã chuyển sang chương trình chế tạo tàu “Qiuxin”.

TÀU ĐỔ BỘ

Trọng tâm của việc chế tạo tàu đổ bộ là 2 lớp tàu: tàu LPD Type 071 lớn và tàu LSM (tàu đổ bộ tầm trung) thân ghép lớp “Yunshu”. Cả hai tàu này đều có thể được tiếp tục chế tạo trong vài năm nữa. Hơn 10 năm qua, Trung Quốc đã đưa vào sử dụng 20 tàu đổ bộ mới.

Tàu Type 071 LPD: Ngày 20/12/2006, chiếc tàu đầu tiên đã được hạ thủy tại xưởng đóng tàu Hudong-Zhonghua (Thượng Hải) và là tàu đổ bộ lớn nhất hiện nay đang hoạt động trong Hải quân Trung Quốc. Tàu thứ hai thuộc lớp này đang được chế tạo tại xưởng đóng tàu Đại Liên. Xưởng này đã hoàn thành việc chế tạo tàu LST “Yuting-II” (Type 072-III) trong năm 2005. Có một số khác biệt về tính năng, nhưng ước tính tàu có lượng giãn nước 20.000 tấn (có thể so sánh với tàu LPD lớp “Austin”của Hải quân Mỹ). Sàn đổ bộ phía sau có mang 2 đến 4 trực thăng: 2 trực thăng Z-8 (SUPER FRELON); hoặc 4 trực thăng Ka-29 (6), Z-9 hoặc Z-10. Có những điểm khác nhau về khả năng chở xe và chở quân, nhưng nó có thể chở tối đa 800-900 quân và có chỗ cho 20 xe tăng tầm trung hoặc 60-75 xe chở quân bọc thép/xe chiến đấu chở quân. Tàu này còn có thể mang theo 2 đến 4 xuồng đổ bộ đệm khí. Trung Quốc đã có xe chở quân bọc thép Type 63 và Type 89, xe chiến đấu bộ binh Type 86, hệ thống pháo 105mm Type 63A và hiện nay đang bắt đầu chương trình tàu đổ bộ ZBD-97 (Type 97) được trang bị pháo chủ lực 100mm và pháo đồng trục 30mm dùng cho Hải quân đánh bộ, cùng với một phương tiện tác chiến điện tử mới hiện đang thử nghiệm (đã thấy chiếc đầu tiên hồi tháng 8/2006). Tàu có tầm 6.000 hải lí ở 12 hải lí/giờ, đủ để đưa các đơn vị của Trung Quốc đến bất kì nơi nào ở châu Á.


Tàu đổ bộ Type 071

 

Tàu đổ bộ (LSM) tốc độ cao lớp “Lunshu” hiện đang được chế tạo tại 2 xưởng đóng tàu: Zhonghua (Vũ Hán) và Lushun-New Dalian. Có khoảng 12 tàu đã đưa vào hoạt động, được chuyển giao với nhịp độ 3 chiếc một năm. Tàu đổ bộ này ước tính có lượng giãn nước khoảng 1.800 tấn, và có thể mang 12 xe và có một sàn đỗ nhỏ cho một trực thăng hạng nhẹ (trực thăng Z.9).

Tàu đệm khí (ACV) ZUBR (Project 1232.2 lớp “Pomornik”): hợp đồng với Nga có thể chuẩn bị được kí hoặc đã được kí. Yêu cầu đặt ra là 8 tàu 550 tấn. Tàu có tầm hoạt động 300 (trọng tải đầy đủ) đến 1.000  hải lí, với trọng tải tối đa 230 tấn, có thể bao gồm một số xe bọc thép và 140-350 quân. Mỗi chiếc có giá khoảng 65 triệu USD và việc chuyển giao có thể được tiến hành với nhịp độ 2 chiếc mỗi năm, một khi hợp đồng được khẳng định.

Tàu đổ bộ, đệm khí (LCAC): Trung Quốc đang sử dụng một vài LCAC lớp “Jingsah II” (22m) cho những chức năng khác, nhưng có chương trình khác cho 24 LCAC quân sự để thực hiện những nhiệm vụ của LPD Type 071 mới và các nhiệm vụ hoạt động ven bờ khác. Khi chương trình được bắt đầu, các xưởng đóng tàu của Trung Quốc có thể chuyển giao 4 hoặc 5 tàu mỗi năm.

NHỮNG TÀU KHÁC

Trung Quốc đang có chương trình chế tạo tàu quét thủy lôi đại dương (MSO) 750 tấn, chiếc đầu tiên mang số hiệu 804. Ít nhất có 3 chiếc được chế tạo tại xưởng đóng tàu Qiuxin. Trung Quốc đang có nhu cầu 12 đến 24 tàu để thay thế tàu T-43 MSF đã lỗi thời.

Năm ngoái, Hải quân Trung Quốc đã cho hạ thuỷ ít nhất 2 tàu hỗ trợ mới, bao gồm tàu AGE-892 và một tàu khác, tàu được trang bị hệ thống radar mạng pha như radar trang bị cho tàu DDG Type 051C. Tàu có một sàn đỗ trực thăng ở phía sau. Tàu đã được chuyển giao cho Hải quân Trung Quốc và nó đã mở ra một kỉ nguyên mới trong những lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, huấn luyện và những nhiệm vụ khác.

Công ty chế tạo máy bay Xian cũng đã bắt đầu cho bay thử nghiệm một loại BADGER mới. Được thiết kế lại để sử dụng động cơ turbin cánh quạt DA-30 của Nga, máy bay này được trang bị tên lửa chống tàu phóng từ trên không. Nếu những cuộc thử nghiệm thành công, rất có thể máy bay này sẽ được dùng để thay thế toàn bộ máy bay H-6D.

ĐÁNH GIÁ

Chương trình hiện đại hóa của Hải quân Trung Quốc không phải không có những nhược điểm, kể cả khả năng hoạt động tiến công. Giáo sư Bernard Cole ( Trường Đại học Chiến tranh quốc gia Mỹ) đã kết luận: “Bằng chứng hiện nay cho thấy rằng Bắc Kinh vẫn còn chưa nỗ lực để tổ chức cho Hải quân Trung Quốc có khả năng lớn hơn một nỗ lực phòng thủ trong khoảng 400 hải lí của bờ biển Trung Quốc”. Bất kì một bài toán nào được giải quyết liên quan đến hải quân thì cũng phải bao gồm cả những phát triển của lục quân và không quân trong bất kì một hoạt động tương lai nào.

ĐỘI HÌNH TÁC CHIẾN CỦA HẢI QUÂN TRUNG QUỐC

Hải quân: 230.000, bao gồm 26.000 không quân hải quân và 10.000 hải quân đánh bộ, cộng với khoảng 40.000 lính nghĩa vụ. Thời gian nghĩa vụ: 2 năm.

CÁC CĂN CỨ

Thanh Đảo, Đại Liên, Lữ Thuận, Huludao, Uy Hải, Chengshan, Yuchi, Thượng Hải, Wusong, Định Hải, Hàng Châu, Xiangshan, Trạm Giang, Quảng Châu, Hải Khẩu, Du Lâm, Bắc Hải, Hoàng Phố, những tiền đồn ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

CƠ CẤU TỔ CHỨC

Sở chỉ huy của Hải quân Trung Quốc (cơ quan: chỉ huy, chính trị, hậu cần, trang bị), hạm đội, các đơn vị cấp chiến dịch.

Các lực lượng bao gồm: tàu ngầm, tàu mặt nước, không quân hải quân, hải quân đánh bộ, các lực lượng bờ biển.

Hạm đội Bắc Hải- Sở chỉ huy ở Thanh Đảo

Nhiệm vụ: bảo vệ bờ biển từ biên giới Triều Tiên (sông Áp Lục) và phối hợp với Quân khu Tế Nam. Cơ sở yểm trợ hạt nhân duy nhất đặt ở Huludao; “khu vực phòng thủ bờ biển” (CDZ) của Hải quân Trung Quốc bao gồm: Đại Liên, Yingkou, Uy Hải, Qinhuangdao, Jianjin, Jiaonan.
Sân bay của Hải quân Trung Quốc: Tuchengzi (Đại Liên), Thanh Đảo, Jinxi, Xingtai, Liugongdao, Qinhuangdao.

Hạm đội Đông Hải- Sở chỉ huy ở Ninh Ba.

Nhiệm vụ: phòng thủ bờ biển từ phía nam Lianyungang đến Đông Sơn; và “khu vực phòng thủ bờ biển” bao gồm: Lianyugang, Wusong, Định Hải, Ôn Châu, Ningde, Hạ Môn.
Sân bay: Ninh Ba, Thượng Hải, Luchiao, Shitangqiao, Phúc Châu, Hạ Môn.

Hạm đội Nam Hải- sở chỉ huy ở Trạm Giang.

Nhiệm vụ: phòng thủ bờ biển từ Đông Sơn đến biên giới Việt Nam và (bao gồm cả quần đảo Trường sa và Hoàng sa); “khu vực phòng thủ bờ biển” bao gồm: Trạm Giang, Quảng Châu, Du Lâm (căn cứ tàu ngầm chính).
Sân bay: Trạm Giang, Lĩnh Thủy, Hải Khẩu, Sanya.

CÁC LỰC LƯỢNG HẠM ĐỘI

Tàu ngầm:

Tàu ngầm mang tên lửa đường đạn: 1 (+1) Tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đường đạn (SSBN) Type 094 lớp “Jin” (8.500-9.000 tấn, 12 tên lửa đường đạn phóng từ tàu ngầm (SLBM) (CSS-NX-4, 3-4 đầu đạn MIRV 90-kT, có tầm 8.000km)


Tàu ngầm lớp Jin

 

1 Tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đường đạn (SSBN) Type 092G “Chang Zheng 6 Hao” (Xia #406) (7.000 tấn, 12 tên lửa đường đạn phóng từ tàu ngầm (SLBM) (CSS-NX-3), 1 đầu đạn 1,25 MT TO 2.800km)

Tàu ngầm hạt nhân tiến công : 2 tàu chưa đưa vào sử dụng + 2 tàu ngầm hạt nhân tiến công Type 093/09 lớp “Shang” (6-7.000 tấn, 6 x 533mm ống phóng ngư lôi (TT), với tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm (SLCM) 3M54E (tốc độ 0,8 Mach, tầm 300km), ngư lôi chống ngầm YJ-82, ngư lôi dẫn đường bằng dây Yu-6/53-65KE và ngư lôi Yu-1, Yu-4;

4+1 (không hoạt động) tàu ngầm hạt nhân tiến công (SSN) Type 091 lớp “Chang Zheng 2”  ( lớp “Han”) (5-6.000tấn, 6 ống phóng ngư lôi 533mm (TT) cho ngư lôi chống ngầm YJ-82, ngư lôi dẫn đường bằng dây Yu-6 và ngư lôi Yu-1 (SET 53-57) và ngư lôi Yu-4.

1 (+3) tàu YUAN/Type 041 (2.000 tấn) với 6 ống phóng ngư lôi 533mm;

6 (+) tàu Type 039G/SONG-II (1.700 tấn) với 6 ống phóng ngư lôi 533mm

2 (+5) tàu Type 636/KILO II (2.350 tấn) với 6 ống phóng ngư lôi 533mm

2 tàu Type 877EKM/KILO I (2.350 tấn) với 6 ống phóng ngư lôi 533mm;

1 tàu 039/SONG-I (1.700 tấn) với 6 ống phóng ngư lôi 533mm ;

17 tàu 035G/ES5D/ES5E/MING (1.584 tấn ) với 8 ống phóng ngư lôi 533mm; một tàu đã bị hỏng 5/2003, #361;

30 tàu Type 033/ROMEO (1.319 tấn) 8 ống phóng ngư lôi 533mm ;

1 tàu Type 031/Golf IV với 1 hầm phóng tên lửa đường đạn phóng từ tàu ngầm (SLBM) JL-2

Tàu khu trục:

1 (+1) tàu SOVREMMENNY (Type 956-EM) (chiếc thứ 2 đã được chuyển giao tháng 9/2006)

0 (+2) tàu Type 051C “Shijiazhuang” với 1 pháo 100mm, 6 x 8 hộp chứa tên lửa (tổng số 48), RIF-M/S-300F (48N6E; SA-N-6 GRUMBLE) 2 x 4 hộp chứa tên lửa hạm đối hạm (SSM) YJ-83 (C-803), 2 hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) Type 730, 2 x 324 ống phóng ngư lôi tác chiến chống ngầm (ASW), 2 trực thăng tác chiến chống ngầm Z.9C .

2 tàu Type 052C lớp “Lan Châu” với 1 pháo 100mm, 6 x 8 hộp chứa tên lửa phòng không (ASM) HHQ-9, rađa mạng pha, 2 x 4 hộp chứa tên lửa hạm đối hạm (SSM) YJ-85 (C-805), 2 hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) Type 730;

2 tàu Type 0 “G” (ngư lôi tác chiến chống ngầm (ASW) C324mm YU-85), 2 súng cối 240MM A A/S, 4 hệ thống rốc két phóng loạt (MLRS)

2 tàu  SOVREMMENNY (Type 956-EM) với 2 x 4 tên lửa hạm đối hạm (SSM) SS-N-22 (SUNBURN), 2 tên lửa phòng không (SAM) 9M38 (SA-N-7), 4 pháo 130mm, 4 pháo 30mm, 4 ống phóng ngư lôi 533mm, 2 súng cối RBU 1000 A/S.

1 tàu Lữ Hải với 16 tên lửa hạm đối hạm (SSM) YJ-82, 2 pháo 100mm, 1 x 8 tên lửa phòng không HHQ-7 CROTALE của hải quân.

2 trực thăng HARBIN Zhi-9A

2 tàu Lữ Hộ với 8 tên lửa hạm đối hạm (SSM)YJ-1 (HY-2), 2 pháo 100mm, 8 pháo 37mm, 6 ống phóng ngư lôi 324mm , 1 x 8 tên lửa phòng không HHQ-7 CROTALE của hải quân, 4 pháo phòng không kép 37mm, 2 x 3 AST 324mm.

1 tàu Lữ Đại  III (Type 051G) (Zhanjiang, DD-165), 8 tên lửa hạm đối hạm YJ-1, 2 x 2 pháo 130mm, 4 x 2 pháo 37mm, 6 ống phóng ngư lôi 324 mm, 2 súng cối FQF2500 A/S hoặc “Zhuhai” (DD-166) tái trang bị với 8 Yingji-8 (C-801) và pháo phòng không kép mới 37mm Type 76A (DARBO-type).

1 tàu Lữ Đại II với sàn đỗ trực thăng cho 2 trực thăng tác chiến chống ngầm Z.9C, huỷ bỏ hệ thống pháo kép 130mm và pháo 57mm, và trang bị trung tâm chỉ huy, kiểm soát, truyền thông và tình báo tác chiến chống ngầm mới. Giữ lại ống phóng tên lửa hạm đối hạm Yingji-1 (HY-2).

14 tàu Lữ Đại I với 6 tên lửa hạm đối hạm (SSM) YJ-1 (HY-2), 2 x 2 pháo 130mm, 4 x 2 pháo 57mm, 4 x 2 pháo 37mm, 4 x 2 pháo 25mm, 6 ống phóng ngư lôi 324mm, 2 súng cối FQF2500 A/S, mìn; 3 tàu (DD-110, 132, 165) được tăng cường với trung tâm chỉ huy, kiểm soát, truyền thông và tình báo (C3I) phòng không . Đầu những năm 90, 2 tàu được trang bị 8 hộp chứa tên lửa phòng không CROTALE của hải quân (“Xian” DD-106 và “Keifeng” DD-109); Cuối thập kỉ 90, tàu “Keifeng” được hiện đại hóa với tên lửa hạm đối hạm Yingji-83 (C-803) thay thế tên lửa hạm đối hạm YJ-1 và 4 pháo 37mm 76A mới thay thế những pháo cũ; Cả 2 tàu “Đại Liên” (DD-110) và “Zhanjiang” (DD-165) cũng được nâng cấp tương tự trong thời gian từ 2003-2005.


Tàu Luda I

 

Tàu Frigat:

0+2+26 tàu JIANGKAI II (Type 054A) – được đặt mua giữa năm 2005. 2 pháo 100mm, 2 x 4 hộp chứa tên lửa hạm đối hạm (SSM) YJ-83 (C-803), 1 x 8 hộp chứa tên lửa phòng không (SAM) HQ-7, 4 hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) AK-630 30mm, 2 x 3 ống phóng ngư lôi ILAS-3 324mm cho ngư lôi tác chiến chống ngầm (ASW) Yu-7 (Mark 48Mod.2)

4 tàu Giang Vệ/Type 055 (lớp “Anqing”) với 2 x 3 tên lửa hạm đối hạm (SSM) YJ-8 (C.801), 2 x 6 súng phóng rốc két chống ngầm (ASW RL) Type 3200, 1 pháo Type 79A 100mm, 4 pháo (phòng không) 37mm, 1 x 6 hộp chứa tên lửa phòng không (SAM) HQ-61B SR (12-km), 2 trực thăng HARBIN Z-9A (DAUPHIN 2)

10 tàu Giang Vệ II/Type 053H3 (lớp “Xiaxing”) với 8 tên lửa phòng không (SAM) YJ-8 (C.801), 1 pháo Type PJ33A, 4 x 4 pháo 37mm, 2 x 6 ống phóng rốckét Type 3200 A/S, 1 8 SAM HHQ-7 SR (13-km), 1 trực thăng HARBIN Z-9C
6 tàu JIANGHU V/Type 053H1G với 2 x 3 hộp chứa tên lửa hạm đối hạm (SSM) SY-1A (CSS-N-1) (35km), 2 pháo Type 79A 100mm, 4 x 2 pháo (phòng không) Type 76A 37mm, 2 x 6 súng phóng rốc két chống ngầm (ASW RL) Type 3200, sonar chủ động tần số trung bình SJD-5, sonar thụ động SJC-1B


Tàu lớp Giang Vệ II

 

1 tàu JIANGHU IV/Type 053HT – H (“Siping” – 544) với 1 x 3 tên lửa hạm đối hạm (SSM) SY-1A, 1 pháo tự động Creusot-Loire Compact 100mm (phía trước), 4 x 1 tên lửa phòng không (SAM) PL-9C SR (mod Type 76), 4 x 2 pháo (phòng không) Type 76 37mm, 2 ống phóng ngư lôi ILAS-3 324mm cho ngư lôi tác chiến chống ngầm (ASW) A.244S, 2 x 5 súng phóng rốc két chống ngầm (ASW RL) Type 62, 1 trực thăng HARBIN Z.9 với ngư lôi tác chiến chống ngầm (ASW) Yu-7K, sonar chủ động tần số trung bình EH-5

1 tàu JIANGHU III/Type 053H2 với 8 tên lửa hạm đối hạm (SSM) Ying-ji-8 (C.801) (42km) (“Zhoushan” 537 mod w/8 x YJ-82 (C.803), 2 x 2 pháo Type 79A 100mm, 4 x 2 pháo (phòng không) Type 76 37mm, 2 x 5 súng phóng rốc két (RL) Type 62 A/S, sonar chủ động tần số trung bình EH-5

Tàu tuần tiễu

4 (+2) tàu Project 12421 MOLNIYA/tàu tên lửa tiến công nhanh TARANTUL IV (hợp đồng đặt mua của công ti Vympel Joint Stock Shipbuilding Co, Nga, 2005) với 4 tên lửa hạm đối hạm (SSM) P-270 MOSKIT (SS-N-22 SUNBURN), 1  AK-176, 1 x 4 tên lửa phòng không (SAM) Fasta-4M (SA-N-8), 2 pháo phòng không AK-630 Gatling 30mm

7 (+3+6) tàu tên lửa tiến công nhanh lớp “Qiuxin” với 4 SSM YJ-83, 1 hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) AK-630. Theo chương trình ít nhất sẽ có 20-24 hệ thống.

7 tàu HOUJIAN/tàu tên lửa tiến công nhanh Project 720T với tên lửa hạm đối hạm (SSM)  YJ-8 (C.801); 5 với pháo AK-176 76mm, 2 pháo 30mm;  2 với 4 pháo 37mm Type 76A. 5 tàu được coi là một phần của Các lực lượng đồn trú Hồng Công, tất cả đều có pháo AK-76 đặt ở phía trước.

19 tàu HOUXIN/tàu tên lửa tiến công nhanh Type 037 với 4 tên lửa hạm đối hạm (SSM)  YJ-8, 2 x 2 pháo 30mm
60 tàu HUANGFEN/HOLA/tàu tên lửa tiến công nhanh Type  021 với 4 x 1 tên lửa hạm đối hạm (SSM) SY-1/C-201 (CSS-N-1), 2 x 2 pháo 25mm. Khoảng 45 tàu dự bị.

Trên 125 tàu tên lửa tiến công nhanh HOUKU với 2 tên lửa hạm đối hạm (SSM) SY-1, 2 hoặc 2 x 2 pháo 25mm

36 tàu HAIQUING/tàu Type 037/tàu tuần tiễu tiến công nhanh ID với 2 x 2 pháo 37mm, 2 x 2 pháo 25mm, 2 x 6 súng cối Type 87/RBU-1200 A/S


Type 037 Haiquing

 

 

90+12-15 tàu tuần tiễu tiến công nhanh HAINAN (dự bị) với 2 x 2 pháo 57mm, 2 x 2 pháo 25mm, 5 ống phóng rốckét Type 81/RBU-1000 A/S

2 tàu tuần tiễu lớn HAIJIU với 2 x 2 pháo 57mm, 2 x 2 pháo 30mm, 4 súng cối RBU1200 A/S

15 tàu tuần tiễu ven biển HAIZHUI với 2 x 2 pháo 37mm, 2 x 2 pháo 25mm

20+80 tàu SHANGHAI II 9 (dự bị)/tàu pháo tiến công nhanh Type 62C với 2 x 2 pháo 37mm, 2 x 2 pháo 25mm

Tác chiến thủy lôi

1 tàu WOLEI/tàu rải thủy lôi Type 91B (PN#814) (2.300 tấn), 2 x 2 pháo 37mm, 2 x 2 pháo 25mm, 200 mìn

1 (+4) tàu quét thủy lôi đại dương lớp No.804 (700 tấn), 1 x 2 pháo 37mm. Đang chế tạo thêm tại xưởng đóng tàu Qiuxin, Thượng Hải. Kế hoạch 30 tàu.

30-40 tàu quét thủy lôi đại dương Type 10/T-43

4 tàu WOSAI/tàu quét thủy lôi Type 082 (PN #4422) đường sông

Tàu đổ bộ:

1 (+2 đã có kế hoạch)  đốc đổ bộ (LPD) Type 071, 13.750 tấn (trọng tải đầy đủ), 160 x 27 mét, 1 pháo AK-176 76mm, 2-4 hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) AK-630 30mm, 6 tàu đổ bộ chở xe và quân hoặc 2 tàu đổ bộ thông thường , 75-80 xe chiến đấu bộ binh hoặc 20 xe tăng chiến đấu chủ lực, 2 trực thăng Z.8A tầm trung. Hợp đồng đặt mua cuối năm 2006 với xưởng đóng tàu Hudong-Zhonghua, Thượng Hải.

9 tàu YUTING-III/ tàu đổ bộ (LST) Type 072-III với 4 x 2 pháo Type 76 37mm cho tàu 500 tấn hoặc 200 quân và 2 tàu đệm khí Type 724, hoặc 10 xe tăng chiến đấu chủ lực – đã được hoàn thành tại xưởng đóng tàu Đại Liên và xưởng đóng tàu Hudong-Zhonghua, từ năm 2002-04.


Type 072-III

 

 

11 tàu YUTING-II/ LST Type 072-II 2 x 3 pháo Type 76A 30mm cho xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT), 18 xe chiến đấu bộ binh (IFV) hoặc chở 500 tấn hàng và 2 tàu đệm khí Type 724

7 LST YUKAN/Type 072 với 2 x 3 pháo 57mm cho 5 xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) hoặc 10 xe chiến đấu bộ binh (IFV), 20 quân hải quân đánh bộ hoặc 500 tấn hàng.

23 tàu YUHAI/ tàu đổ bộ tầm trung (LSM) với 5 pháo  14,5mm cho xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT), 6 xe chiến đấu bộ binh (IFV) hoặc 250 quân

1 tàu YUDENG/LSM Type 073 với 2 x 2 pháo 37mm cho 10 xe chiến đấu bộ binh (IFV), 200 quân hoặc 250 tấn hàng

4-5 tàu YUDAO/ LSM Type 073-II với 4 x 2 pháo 25mm cho 6 xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) hoặc 250 quân

4 tàu chở quân QIONGSHA,  chở 400 quân

6 (+6) LSM YUNSHU ( No.545) với 1 x 2 pháo 57mm, 250 tấn hàng, 6 xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) hoặc 250 quân – hiện đang được chế tạo tại các xưởng đóng tàu Zhonghua (Vũ Hán) và Lushun ( Đại Liên mới)

31 tàu YULIAN/ LSM Type 079-I/II  với 2 x 2 pháo 25mm, 1 x 40 rốc két phóng loạt (MRL) Type 81H 122mm cho 5 xe tăng hạng nhẹ/xe chiến đấu bộ binh (IFV) hoặc 8 xe tải hoặc 200 tấn hàng

13 (+7) tàu đổ bộ thông thường (LCU)/LSM, ước tính 100 tấn hàng, 6 xe chiến đấu bộ binh (IFV) hoặc lên tới 100 quân và 100 tấn hàng – vẫn đang được chế tạo tại Lushun và Zhonghua. 21 tàu sẽ được hoàn thành vào giữa năm 2007

0 (+6+2) tàu đệm khí (ACV) ZUBR với 2 x 4 SAM SA-N-5 (GRAIL) SR, 2 hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) AK-630, 10 xe chiến đấu bộ binh hoặc 3 xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) cộng với 230 quân

30 tàu PAYI/tàu đổ bộ đệm khí (LCPA) Type 724

23 tàu  LCU YULING

50 tàu YUQIN/ LCM Project 069

30-40 tàu YUCHAI/ LCM Project 068

225 tàu YUNNAN/ LCM Type 067

Lực lượng bảo đảm và hỗ trợ:

1 tàu chỉ huy AGC #953-hạ thủy năm 2004, đưa vào sử dụng năm 2005

2 tàu tiếp tế hạm đội “Fuchi” (AOR) – 24.500 tấn trọng tải đầy đủ, 170 x 25m với 4 x 2 pháo 37mm Type 76, sàn đỗ cho 2 trực thăng hạng trung ở phía sau – được đưa vào sử dụng năm 2003 – 04, tên: Fuchi (AOR-886), Weishanwan (AOR-887)

1 tàu tiếp tế hạm đội NANCANG (AOR) “Nanyun” (AOR-953)

2 tàu tiếp tế hạm đội FUQING (AOR) “Taikang” (AOR-881), “Fencang” (AOR-882)

3 tàu JINYOU, 3 tàu SHENGLI, trên 20 tàu FULIN, trên 24 tàu FUZHOU, 5 tàu vận tải dầu LEIZHOU (AOT)

2 tàu vận tải tên lửa DAYUN/ tàu tiếp tế (AFS)

2 tàu chở đạn YANTAI (AE)

16-20 tàu chở hàng ven biển (AK)

1 tàu thu thập tin tức tình báo DADIE (AGI) “Beidiao” #841

1 tàu “Shiyan”/WUHU-B (AGE) #891

1 tàu hỗ trợ vũ khí YANXI (AGE) “Hsun” #701

1 tàu phá băng YANBING/tàu thu thập tin tức tình báo (AGB/AGI)

3 tàu yểm trợ YUAN WANG (AGM), 1 tàu XIANGYANGHUNG (AGM),

1 tàu yểm trợ tên lửa DONGDIAO (AGM) “Dongiao” #232

1 tàu huấn luyện không quân hải quân SHICHANG (#82) (AXT) cho trực thăng

1 tàu huấn luyện sĩ quan hải quân (AXT) “Zhenghe” #81

3 tàu yểm trợ tàu ngầm DAJIANG, 1 tàu DAZHI, 2 tàu DALANG-II (AS) với 2 thiết bị cứu nạn tàu ngầm vùng biển sâu (DSRV)

Tàu sửa chữa do Nga chế tạo (ROV) và 1-2 trực thăng Z.9

2 xuồng cứu nạn DALANG-1, 2 DAZHOU, 1 HUDONG

1 tàu cứu hộ DAOZHA

1 tàu sửa chữa GALATI AR

10 tàu nghiên cứu và khảo sát hải dương học  (AGS)

3-4 tàu rải cáp YOUZHONG (ARC)

3 tàu phá băng YANHA (AGB)

3+ xuồng YANNAN, 12 phương tiện cứu hộ khác nhau

14 tàu chở nước ven biển (AWT)

Cơ cấu tổ chức lực lượng phòng thủ khu vực bờ biển:

32 trung đoàn pháo độc lập và tên lửa hạm đối hạm (SSM) được triển khai ở 25 khu vực phòng thủ bờ biển để bảo vệ các căn cứ hải quân, các đảo ngoài khơi và những điểm có thể bị tiến công khác.

Pháo: 85mm, 100mm, 130mm

Tên lửa bờ đối hạm (SSM): CSS-C-3 (HAI YING 2)

KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN

Cơ cấu tổ chức

Lực lượng không quân hải quân Trung Quốc được tổ chức thành những sư đoàn không quân và trung đoàn độc lập, trực thuộc 3 hạm đội của Hải quân Trung Quốc. Tổng số có 25.000 quân và 800 máy bay

Hạm đội Bắc Hải:

Sư đoàn không quân hải quân số 1: máy bay ném bom: H-6D/M, H-5, HJ-5;

Sư đoàn không quân hải quân số 2: máy bay ném bom: H-6D/H, H-5, HD-5, HJ-5;

Sư đoàn không quân hải quân số 5 (Thanh Đảo): máy bay tiêm kích/ tiến công: 23 Su-30MK.2, J-8A, Q-5D/E; Trung đoàn huấn luyện: máy bay huấn luyện: JJ-7, JJ-6


Máy bay H-6D cải tiến từ Tu-16 Badger

 

 

Hạm đội Đông Hải:

Sư đoàn không quân hải quân số 4 (Luqiao): máy bay tiêm kích: J-7E

Sư đoàn không quân hải quân số 6 (Dachang): Yun-8J, Yun-8 ELINT, HD-5; Trung đoàn huấn luyện: Q-5J, JJ-7, JJ-6.

Hạm đội Nam Hải:

Sư đoàn không quân hải quân số 3: máy bay ném bom: H-6D/H/M;

Sư đoàn không quân hải quân số 8 (Haikou): máy bay tiêm kích: J-7B, J-6

Sư đoàn không quân hải quân số 9 (Lingshui): máy bay tiêm kích: J-8B/D; máy bay tiến công: 18 JH-7; máy bay tuần tiễu biển: 2 máy bay Yun-8J Searchwater; máy bay tiếp dầu trên không: 4-6 HY-6D; Trung đoàn vận tải: máy bay Yun-7, Yak-42; Huấn luyện: JJ-7, JJ-6

Hải quân đánh bộ:

Lữ đoàn hải quân đánh bộ số 1; Lữ đoàn (hải quân đánh bộ) số 164; 12.000 quân. Mỗi lữ đoàn bao gồm: 1 trung đoàn bọc thép (2 tiểu đoàn tăng hạng nhẹ đổ bộ Type 63), 3 tiểu đoàn bộ binh cơ giới (xe chiến đấu bộ binh Type 86 và xe chở quân bọc thép Type 63/89 – đều dùng cho đổ bộ), tiểu đoàn bộ binh tác chiến biển (750 quân), tiểu đoàn lực lượng hoạt động đặc biệt; tiểu đoàn tên lửa. (HJ-8 và HJ-73 ATGM, SAM NH-5), tiểu đoàn công binh và hóa học; tiểu đoàn thông tin và tác chiến điện tử.

Máy bay của Hải quân Trung Quốc:

Máy bay tiêm kích:

Trên 48 J-8A/B/D (FINBACH), 250 J-7E/H, 120 J-6 (FARMER), 26 J-7 (FISHBED)

Máy bay tiêm kích/tiến công mặt đất:

23 Su-30MK.2 (FLANKER), 36 JH-7 (FLYING LEOPARD) 40 Q-5D/E (FANTAN)

Máy bay ném bom:

52 H-6D BADGER, 24 H-6H, 20 H-6M, 8+ đang chế tạo, 30+70 H-5 dự bị (BEAGLE), 1 H-6K

Máy bay trinh sát:

3-4 Yun-8X (X=Xun; cảnh giới), 7 HZ-5

Nhiệm vụ đặc biệt: 1 Y-8DZ ELINT, 12-15 HD-5 BEAGLE

Máy bay chở dầu:3 H-6DU

Máy bay trinh sát trên biển/ tác chiến chống ngầm: 2-3 Yun-8J (SEARCHWATER) 4 SH-5

Trực thăng (tác chiến chống ngầm):

10 Ka-28 HELIX, 20 AS 321G/J SUPER FRELON, 12 Z-8C (đưa vào chế tạo năm 2003), 8 AS-565 (PANTHER), 25 Z.9C DAUPHIN 2, 6-8 KA-28 SAR.

Thử nghiệm và phát triển: đang phát triển 1 H-6X (YJ-83/C.803

Máy bay vận tải: 8 YUN-8, 2-4 YUN-7, 2 YAK-42, 6 AN-26, 12-15 YUN-5 (AN-12)

Máy bay huấn luyện: 12-15 QJ-5 (FANTAN), JJ-7, JJ-6, 50+ PT-6.

http://hoangtuanminh1402.wordpress.com/2009/06/11/nh%E1%BB%AFng-phat-tri%E1%BB%83n-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-quan-s%E1%BB%B1-c%E1%BB%A7a-h%E1%BA%A3i-quan-trung-qu%E1%BB%91c/

 

Các căn cứ chính: Trạm Giang (Zhanjiang) - tọa độ: 21º10'N 110º20'E; Quảng Châu (Guangzhou) - 23º08'N 113º20'E; Du Lâm (Yulin) - 22º37'N 110º08'E, Tam Á (Sanya) - Hải Nam; Bắc Hải (Beihai)- 21º29'N 109º10'E; Sán Đầu (Shantou) - 23º23'N 116º39'E; Hải Khẩu (Haikou) - 20º05'N 110º25'E; Hoàng Bố (Huangpu) - 23º08'N 113º31'E; Hongkong.

Các Phó Tư lệnh, gồm: Xiao Xinnian (Tân Niên); Xue Tianpei (Thiên Bối); Den Minglin (Minh Lâm); Zhang Zhicheng (Chí Thành); Han Linzhi (Lâm Chí). Chính ủy: Xu Yitian (Nghị Thiên). Nguyên Tư lệnh Hạm đội Wu Shengli (Vũ Thắng Lợi) đã được bổ nhiệm làm Tư lệnh Hải quân TQ, từ tháng 8 năm 2006.

Lực lượng chủ yếu, gồm:

- Soái hạm 

tuần dương hạm AOR/AK 953 Nam Xương (南昌, Nanchang) trọng tải 23.000 tấn.

- Đơn vị 91526, gồm

+ Các khu trục hạm: 161 Trường Sa (Changsha)(Changsha hay Trường Sa thuộc Việt Nam cùng với Hoàng Sa ) - loại 051, lớp Lữ Đại (Luda); 163 Nam Xương (Nanchang) - loại 051D, lớp Lữ Đại; 164 Quế Lâm (Guilin) - loại 051D, lớp Lữ Đại; 166 Chu Hải (Zhuhai) - loại 051, lớp Lữ Đại-II; 167 Thâm Quyến (Shenzen) - loại 051B, lớp Lữ Hải (Luhai);...

+ Các hộ tống hạm: 558 Tư Cống (Zigong) - loại 053H, lớp Giang Hồ-I (Jianghu-I); 564 Nghi Xương (Yichang) - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II);...

- Đơn vị tàu ngầm 32 xung kích (căn cứ Du Lâm), gồm

06 tàu lớp Minh ES5F (Ming) (số hiệu: 305, 306, 307, 308, 309, 310); 10 tàu lớp Romeo - Pr033; trên 04 tàu lớp Tống (Song) loại 039G hoặc 039G1 thay thế cho các tàu lớp Romeo); 01 tàu lớp Kilo;...

- Đơn vị tàu ngầm số 1

Trang bị loại 092 và loại 094 SSBN;...

- Đơn vị 91458, căn cứ Du Lâm

Hộ tống hạm 552 Yibin - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II);...

- Các khu trục hạm, hộ tống hạm khác - chưa rõ thuộc đơn vị nào

+ Khu trục hạm: 139 Ninh Ba (Ningbo) - loại 956M, lớp Sovremenny; 162 Nam Ninh (Nanning) - loại 051GII, lớp Lữ Đại; 165 Trạm Giang (Zhanjiang) - loại 051G, lớp Lữ Đại-II; 168 Quảng Châu (Guangzhou) - loại 052B, lớp Quảng Châu (Guangzhou); 169 Vũ Hán (Wuhan) - loại 052B lớp Quảng Châu; 170 Lan Châu (Lanzhou) - loại 052C, lớp Lữ Dương-II (Luyang-II); 171 Hải Khẩu (Haikou) - loại 052C, lớp Luyang-II;...

+ Hộ tống hạm: 509 Trường Đức (Changde) - loại 053H, lớp Giang Hồ-I (Jianghu-I); 551 Mao Minh (Maoming) - loại 053H, lớp Jianghu- I; 553 Shaoguan - loại 053H, lớp Jianghu-I; 554 Ân Thuận (Anshun) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 555 Chiêu Đồng (Zhaotong) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 557 Kế Thủ (Jishou) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 559 Bắc Hải (Beihai) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 560 Đông Quan (Dongguan) - loại 053H, lớp Jianghu I; 561 Sán Đầu (Shantou) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 562 Giang Môn (Jiangmen) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 563 Phật Sơn (Foshan) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 564 Yichang; 565 Du Lâm (Yulin) - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II); 566 Vũ Tây (Yuxi) - loại 053H3, lớp Jiangwei-II; 567 Hương Phiên (Xiangfan) - loại 053H3, lớp Jiangwei-II;...

- Tàu đổ bộ

10 tàu LST - loại 072II lớp Yuting; 07 tàu LST - loại 072 lớp Yukan; 04 tàu LSMs lớp Yudao;...

- Tàu vận tải, quân y

04 tàu vận tải, tiếp liệu lớp Hùng Sa (Qiongsha), 01 tàu cứu thương: AO 885, 886 - Qiando Hu, AOR 887 - Weishan Hu, 973,...

- Các đơn vị không quân thuộc Hạm đội Nam Hải 

các căn cứ: Foluo, Quế Bình (Guiping), Hải Khẩu (Haikou), Linh Linh (Lingling), Linh Thủy (Lingshui), Jialaishi, Tam Á (Sanya).

+ Trung đoàn 8 - Sư đoàn 3 (căn cứ Trạm Giang): trang bị loại H-6D, H-6U, J-10, JH-7, J-11, Su-27/30;

+ Sư đoàn 8 (căn cứ Hải Khẩu): Trung đoàn 22 (căn cứ Hải Khẩu) - trang bị loại J-7; trung đoàn 24 (căn cứ Gia Lại Thức (Jialaishi)) - trang bị loại J-7II;...

+ Sư đoàn 9 (căn cứ Linh Thủy (Lingshui)): trung đoàn 25 - trang bị loại J-8B (J-8II), J-8D (J-8IV); trung đoàn 27 (căn cứ Lạc Đông (Ledong))- trang bị loại JH-7A;...

+ Trung đoàn 5 - sư đoàn 2 (căn cứ Lôi Dương (Leiyang)): trang bị loại HZ-5;...

+ Trung đoàn máy bay vận tải (căn cứ Hải Khẩu);

+ Các đơn vị trực thăng Z-8, Z-9 tại Hải Khẩu.

- Các đơn vị lính thủy

Lữ đoàn 1; lữ đoàn 164. Mỗi lữ gồm: 03 trung đoàn bộ binh cơ giới, 01 trung đoàn pháo, 01 trung đoàn tăng - thiết giáp đổ bộ, và các đơn vị đặc biệt, công binh, phòng hóa, thông tin,...

- 01 tiểu đoàn tên lửa đối hải

- 01 trung đoàn phòng không

- 01 lữ radar

Hạm đội Nam Hải là lực lượng trực tiếp giao tranh với Hải quân Việt Nam trong những cuộc tranh chấp lãnh hải vào các thập niên 1970 và 1980.

Khu trục hạm

  • Khu trục hạm Loại 07 hạng Yên Sơn (鞍山) – 04 chiếc (đã ngưng hoạt động).
  • Khu trục hạm Loại 051 hạng Lữ Đại (旅大) – 16 chiếc.
  • Khu trục hạm Loại 052 hạng Lữ Hộ ( ) – 02 chiếc.
  • Khu trục hạm Loại 051B hạng Lữ Hải (旅海) – 01 chiếc.
  • Khu trục hạm Loại 052B hạng Quảng Châu – 02 chiếc.
  • Khu trục hạm Loại 052C hạng Lan Châu – 02 chiếc.
  • Khu trục hạm Loại 051C – 1 chiếc đã hoạt động, còn 01 đang đóng.
  • Khu trục hạm hạng Sovremenny (Loại 956) – 02 chiếc: 136 Hàn Châu (Hangzhou); 137 Phúc Châu (Fuzhou).
  • Khu trục hạm hạng Sovremenny (Loại 956EM) – 02 chiếc: 138 Thái Châu (Taizhou); 139 Ninh Ba (Ningbo).
Tuần dương hạm

Tuần duyên

  • Loại 021 Hoàng Phong (Huangfeng) – 65 chiếc.
  • Loại 343M Hậu Tân (Houxin) – 14 chiếc.
  • Loại 520T Hậu Giang (Houjian) – 04 chiếc.
Tàu ngầm

  • SSBN (Ballistic Missile Nuclear Submarine)
    • Loại 092 - Lớp Hạ Xia-class – 01 chiếc.
    • Loại 094 - Lớp Tấn Jin-class – 01 chiếc.
  • SSB (Ballistic Missile Submarine)
    • Loại 033G - Vũ Hán (Wuhan) Golf-class – 01 chiếc (số hiệu: 351).
  • SSN (Nuclear Attack Submarine)
    • Loại 091 - Lớp Hán Han-class – 05 chiếc (số hiệu: 402,...).
    • Loại 093 - Lớp Thượng Shang-class – 02 chiếc.
  • SSK (Diesel-Electric Attack Submarine)
    • Loại 039 - Lớp Tống Song-class – 14 chiếc, gồm: 01 tàu loại 039 số hiệu 320 (dừng hoạt động năm 1998); 03 tàu loại 039G (314, 321322); 10 tàu loại 039G1 (315, 316, 318, 323, 324, 325, 327,…).
    • Lớp Kilo Kilo-class – 12 chiếc, gồm: 02 tàu loại 877EKM (số hiệu: 364, 365); 02 tàu loại 636 (số hiệu: 366, 367) ; 08 tàu loại 636M – (số hiệu: 368, 369, 370, 371, 372, 373, 374, 375).
    • Loại 041 - Lớp Nguyên Yuan-class – 02 chiếc (số hiệu: 330,...).
  • SS (Attack Submarine)
  • SSG (Guided Missile Submarine) – phát triển từ loại 033 - 01 chiếc.
  • DSRV (Salvage Submarine) – 01 chiếc.
Trong nhiều tài liệu, tư liệu về Hải quân TQ trên phương tiện truyền thông, việc bố trí và số lượng các tàu ngầm của Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải hoàn toàn không thể hiện.

Tàu đổ bộ

  • LST
    • Loại 072 - Lớp Vũ Khang (Yukan) – 07 chiếc.
    • Loại 072-II - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 11 chiếc.
    • Loại 072-III - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 08 chiếc.
    • Lớp Sơn (Shan) LST-1 – 03 chiếc.
  • LSM
    • Loại 073-II - Lớp Vũ Đảo (Yudao) – 01 chiếc.
    • Loại 073-III - Lớp Vũ Đăng (Yudeng) – 01 chiếc.
  • APA (attack transport)
    • Lớp Hùng Sa (Qiongsha) – 04 chiếc.
    • Lớp Hùng Sa (Qiongsha AH) – 02 chiếc.

Hải quân Trung Quốc có ba hạm đội:

Hạm đội Bắc Hải (北海舰隊)

Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Thanh Đảo (青島) thuộc tỉnh Sơn Đông (山東). Hạm đội này có khu vực trách nhiệm vùng vịnh Bột Hải ( ) và Hoàng Hải (黄海). Soái hạm của hạm đội nầy là khu trục hạm Cáp Nhĩ Tân (哈爾濱), thuộc loại trang bị tên lửa có điều khiển (phương Tây gọi là guided-missile destroyer, viết tắt DDG).

Hạm đội Đông Hải (東海舰隊)

Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Ninh Ba (寧波), thuộc tỉnh Chiết Giang (浙江). Hạm đội nầy có khu vực trách nhiệm vùng Đông Hải. Soái hạm là tuần dương hạm J302 Sùng Minh Đảo (崇明島, Chongmingdao).

Hạm đội Nam Hải (南海舰隊)

Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Trạm Giang (湛江) thuộc tỉnh Quảng Đông (廣東). Hạm đội nầy có trách nhiệm kiểm soát vùng Nam Hải, chia thành sáu khu tác chiến, phòng thủ: Trạm Giang (Zhanjiang), Bắc Hải (Beihai), Hoàng Bố (Huangpu), Sán Đầu (Shantou), Hải Khẩu (Haikou) và Tây Sa (Xisha).

Các căn cứ chính: Trạm Giang (Zhanjiang) - tọa độ: 21º10'N 110º20'E; Quảng Châu (Guangzhou) - 23º08'N 113º20'E; Du Lâm (Yulin) - 22º37'N 110º08'E, Tam Á (Sanya) - Hải Nam; Bắc Hải (Beihai)- 21º29'N 109º10'E; Sán Đầu (Shantou) - 23º23'N 116º39'E; Hải Khẩu (Haikou) - 20º05'N 110º25'E; Hoàng Bố (Huangpu) - 23º08'N 113º31'E; Hongkong.

Các Phó Tư lệnh, gồm: Xiao Xinnian (Tân Niên); Xue Tianpei (Thiên Bối); Den Minglin (Minh Lâm); Zhang Zhicheng (Chí Thành); Han Linzhi (Lâm Chí). Chính ủy: Xu Yitian (Nghị Thiên). Nguyên Tư lệnh Hạm đội Wu Shengli (Vũ Thắng Lợi) đã được bổ nhiệm làm Tư lệnh Hải quân TQ, từ tháng 8 năm 2006.

Lực lượng chủ yếu, gồm:

- Soái hạm 

tuần dương hạm AOR/AK 953 Nam Xương (南昌, Nanchang) trọng tải 23.000 tấn.

- Đơn vị 91526, gồm

+ Các khu trục hạm: 161 Trường Sa (Changsha)(Changsha hay Trường Sa thuộc Việt Nam cùng với Hoàng Sa ) - loại 051, lớp Lữ Đại (Luda); 163 Nam Xương (Nanchang) - loại 051D, lớp Lữ Đại; 164 Quế Lâm (Guilin) - loại 051D, lớp Lữ Đại; 166 Chu Hải (Zhuhai) - loại 051, lớp Lữ Đại-II; 167 Thâm Quyến (Shenzen) - loại 051B, lớp Lữ Hải (Luhai);...

+ Các hộ tống hạm: 558 Tư Cống (Zigong) - loại 053H, lớp Giang Hồ-I (Jianghu-I); 564 Nghi Xương (Yichang) - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II);...

- Đơn vị tàu ngầm 32 xung kích (căn cứ Du Lâm), gồm

06 tàu lớp Minh ES5F (Ming) (số hiệu: 305, 306, 307, 308, 309, 310); 10 tàu lớp Romeo - Pr033; trên 04 tàu lớp Tống (Song) loại 039G hoặc 039G1 thay thế cho các tàu lớp Romeo); 01 tàu lớp Kilo;...

- Đơn vị tàu ngầm số 1

Trang bị loại 092 và loại 094 SSBN;...

- Đơn vị 91458, căn cứ Du Lâm

Hộ tống hạm 552 Yibin - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II);...

- Các khu trục hạm, hộ tống hạm khác - chưa rõ thuộc đơn vị nào

+ Khu trục hạm: 139 Ninh Ba (Ningbo) - loại 956M, lớp Sovremenny; 162 Nam Ninh (Nanning) - loại 051GII, lớp Lữ Đại; 165 Trạm Giang (Zhanjiang) - loại 051G, lớp Lữ Đại-II; 168 Quảng Châu (Guangzhou) - loại 052B, lớp Quảng Châu (Guangzhou); 169 Vũ Hán (Wuhan) - loại 052B lớp Quảng Châu; 170 Lan Châu (Lanzhou) - loại 052C, lớp Lữ Dương-II (Luyang-II); 171 Hải Khẩu (Haikou) - loại 052C, lớp Luyang-II;...

+ Hộ tống hạm: 509 Trường Đức (Changde) - loại 053H, lớp Giang Hồ-I (Jianghu-I); 551 Mao Minh (Maoming) - loại 053H, lớp Jianghu- I; 553 Shaoguan - loại 053H, lớp Jianghu-I; 554 Ân Thuận (Anshun) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 555 Chiêu Đồng (Zhaotong) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 557 Kế Thủ (Jishou) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 559 Bắc Hải (Beihai) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 560 Đông Quan (Dongguan) - loại 053H, lớp Jianghu I; 561 Sán Đầu (Shantou) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 562 Giang Môn (Jiangmen) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 563 Phật Sơn (Foshan) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 564 Yichang; 565 Du Lâm (Yulin) - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II); 566 Vũ Tây (Yuxi) - loại 053H3, lớp Jiangwei-II; 567 Hương Phiên (Xiangfan) - loại 053H3, lớp Jiangwei-II;...

- Tàu đổ bộ

10 tàu LST - loại 072II lớp Yuting; 07 tàu LST - loại 072 lớp Yukan; 04 tàu LSMs lớp Yudao;...

- Tàu vận tải, quân y

04 tàu vận tải, tiếp liệu lớp Hùng Sa (Qiongsha), 01 tàu cứu thương: AO 885, 886 - Qiando Hu, AOR 887 - Weishan Hu, 973,...

- Các đơn vị không quân thuộc Hạm đội Nam Hải 

các căn cứ: Foluo, Quế Bình (Guiping), Hải Khẩu (Haikou), Linh Linh (Lingling), Linh Thủy (Lingshui), Jialaishi, Tam Á (Sanya).

+ Trung đoàn 8 - Sư đoàn 3 (căn cứ Trạm Giang): trang bị loại H-6D, H-6U, J-10, JH-7, J-11, Su-27/30;

+ Sư đoàn 8 (căn cứ Hải Khẩu): Trung đoàn 22 (căn cứ Hải Khẩu) - trang bị loại J-7; trung đoàn 24 (căn cứ Gia Lại Thức (Jialaishi)) - trang bị loại J-7II;...

+ Sư đoàn 9 (căn cứ Linh Thủy (Lingshui)): trung đoàn 25 - trang bị loại J-8B (J-8II), J-8D (J-8IV); trung đoàn 27 (căn cứ Lạc Đông (Ledong))- trang bị loại JH-7A;...

+ Trung đoàn 5 - sư đoàn 2 (căn cứ Lôi Dương (Leiyang)): trang bị loại HZ-5;...

+ Trung đoàn máy bay vận tải (căn cứ Hải Khẩu);

+ Các đơn vị trực thăng Z-8, Z-9 tại Hải Khẩu.

- Các đơn vị lính thủy

Lữ đoàn 1; lữ đoàn 164. Mỗi lữ gồm: 03 trung đoàn bộ binh cơ giới, 01 trung đoàn pháo, 01 trung đoàn tăng - thiết giáp đổ bộ, và các đơn vị đặc biệt, công binh, phòng hóa, thông tin,...

- 01 tiểu đoàn tên lửa đối hải

- 01 trung đoàn phòng không

- 01 lữ radar

Hạm đội Nam Hải là lực lượng trực tiếp giao tranh với Hải quân Việt Nam trong những cuộc tranh chấp lãnh hải vào các thập niên 1970 và 1980.

 Khu trục hạm

 Tuần dương hạm

 Tuần duyên

 Tàu ngầm

Trong nhiều tài liệu, tư liệu về Hải quân TQ trên phương tiện truyền thông, việc bố trí và số lượng các tàu ngầm của Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải hoàn toàn không thể hiện.

 Tàu đổ bộ

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Qu%C3%A2n_gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Trung_Qu%E1%BB%91c

 

 

 

 Bauxite Việt Nam International http://bauvinal.info.free.fr  http://bauxitevietnam.free.fr